Banner Home Mobile

Câu ca lưu giữ hồn quê

Thứ Bảy 17, Tháng 2 2024

437

CÂU CA LƯU GIỮ HỒN QUÊ

Ghi chép của TÔN ÁI NHÂN

Ảnh minh hoạ

”Con ơi nhớ tới nhời cha,

Nước lên, gió bấc chớ qua sông Rừng.”

Câu ca dao dặn con ân cần tha thiết của người cha trên vùng đất Thủy Nguyên xưa, đến nay nhiều người vẫn nhớ như in mỗi khi phải đi qua bến đò Rừng. Vậy bến Rừng có gì dưdằn gây tai họa cho những ai đi qua mà người cha phải dặn con thận trọng đến thế?

Thực ra bến Rừng là một khúc sông Bạch Đằng nằm về phía Đông Bắc của huyện Thủy Nguyên giáp với thị xã Quảng Yên, nhưng bị chia cắt bởi khúc sông này gọi là bến Rừng. Bến Rừng là cửa ngõ duy nhất của con sông Bạch Đằng để sáu con sông từ Phả Lại và các nơi hợp về gọi là sông Lục Đầu giang đều dồn về đây để đổ ra biển. Cho nên khi gió mùa Đông Bắc hun  hút từ phía núi Yên Tử của cánh cung.

Đông Triều ào ạt đổ về tạo ra những luồng gió xoáy cực mạnh giữa lúc nước triều dâng lên từ phía Nam cũng ầm ầm như vũ bão gây nên những con sóng đối đầu với gió va đập vào nhau hết sức dữ dội và khủng khiếp. Nếu như những con thuyền ngang qua sông Rừng lúc này sẽ gặp những con sóng lớn vô cùng nguy hiểm đó gây tai họa khôn lường. Tuy ngày nay qua sông Rừng đã có tàu phà khá vững chắc, nhưng vẫn chớ xem thường. Bởi trước đây, chưa có Cầu Kiền và Cầu Bính, các vị lãnh đạo cấp cao của Nhà nước đi Quảng Ninh thường hay về Hải Phòng, Hà Nội bằng con đường qua phà Rừng, đã có lần gặp đúng hôm nước lên gió bấc nên nó đánh bạt cả tầu lẫn phà trôi giạt ra xa lênh đênh mãi không vào được bến phải gọi tầu hải quân đến cứu. Xem ra câu ca dao dặn dò con cháu của người cha trên đất Thủy Nguyên xưa đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Những lời răn dậy con cháu của cha ông ta bằng thơ ca về cách đi lại ăn ở đối với thiên nhiên và cách đối nhân xử thế cũng như mọi mặt cuộc sống của con người có lẽ còn khá nhiều đang tiềm ẩn trong dân chúng trên vùng đất Thủy Nguyên giầu đẹp của chúng ta mà chưa có ai khai thác hết mà thôi. Bởi cuộc sống hàng ngày của chúng ta bộn bề trăm thứ phải vật lộn đấu tranh để tồn tại. Chỉ nói riêng về vấn đề tâm linh thôi, ông cha ta cũng có bao điều dặn lại. Như nằm ngủ gặp chiêm bao, nhất là ác mộng thì xử trí ra sao. Nếu trong giấc ngủ thường ngày của chúng ta chẳng may gặp ác mộng, để tránh khỏi xui xẻo, hay lo sợ vì điều dữ ám ảnh thì khi tỉnh dậy tuyệt đối không được nói với ai, chỉ lẳng lặng đến bên vại nước quay mặt về hướng Đông, giơ tay phải lên bấm liên tục vào ngón tay giữa, rồi lẩm bẩm đọc ba lần câu thần chú:

“Chiêm bao! Ơi hỡi chiêm bao!

Trời có tao, đất có tao

Muốn tắm mát lên ngọn sông Đào

Muốn uống rượu ngon tìm vào nhà Lý dịch.

Thành ngăn địch đã có vua chúa xây

 

Tao gửi nhời này cho chú chiêm bao.

Chiêm bao, thì tao giả mày,

Phú quý, thì mày rầy giả tao.

Chiêm bao! Ơi hỡi chiêm bao!..”

Hay có một số người đi đêm sợ ma, cứ về đêm là không dám đi đâu, không dám cả làm việc một mình. Để xóa đi những mặc cảm sợ hãi vô lý đó, cha ông ta đã có hẳn một bài thơ để động viên, khích lệ tạo ra một sự tin tưởng vào nhà Phật xua đuổi tà ma mà mạnh dạn vượt qua tất cả, không sợ hãi nữa. Đó là khi phải đi đêm hoặc phải làm việc trong đêm ở nơi vắng vẻ một mình thì trước khi xuất phát phải chọn một chỗ tối nhất chắp tay vái bốn phương và khấn:

“Đệ tử con bước chân đi,

Nam mô đức Phật từ bi dẫn đường.

Nam mô ầm ầm tiếng sấm,

Nam mô ấm ấm tiếng chuông.

Nam mô mười phương chư Phật.

Nam mô trời đất, thần linh,

Nam mô chúng sinh phù hộ.

Nam mô đại lộ phù trì…

A Di Đà Phật!…”

Cứ thế, vừa đi hay vừa làm việc cứ lẩm nhẩm khấn thì ma quỷ bất cứ ở đâu đều phải tránh xa. Và mọi sợ hãi sẽ biến mất. Qua đấy mới thấy các cụ ngày xưa rất coi trọng thế giới tâm linh nên đã sớm nghĩ ra một thứ văn hóa khá đặc sắc và kỳ bí như các bài khấn, hay niệm chú để nhằm trấn an và xua đi cái tâm lý sợ hãi ma quỷ khi phải đi đêm, hoặc bị ám ảnh về nhưng ác mộng xảy ra xui xẻo với mình. Rồi truyền lại cho con cháu như một thứ báu vật. Không chỉ với thế giới tâm linh vô hình mới có những bài khấn giá trị trên, mà ngay thế giới hữu hình hiện tại còn có những bài niệm thần chú khá độc đáo để lên án cái ác như là cảnh báo, răn đe và trừng phạt nó một cách rất nghiêm khắc. Thể hiện rõ nhất như bài “Khoán trộm”. Bởi thời trước, loạn lạc, giặc giã, cướp trộm xảy ra triền miên nên muốn an toàn, đêm ngủ ngon, không bị đe dọa, ám ảnh bỏi bọn trộm cướp đột nhập, lẻn vào quậy phá thì trước lúc trời tối, gia chủ cầm con dao rựa ra cổng, giữa sân và trước cửa nhà để chém xuống đất và niệm một bài chú khá lạ như sau:

“Úm… ba la… ba la…

Này quỷ, này ma,

Này mẹ, này cha,

Lắng nghe cho hết.

Cha mày tiền duyên

Mẹ mày tiền kiếp,

Nhà mày vô phúc,

Sinh kẻ bất lương,

Không chịu làm ăn,

Chỉ đi trộm cắp…

Bớ quân đạo tặc!

Muốn sống cút ngay,

Bén mảng tới đây,

Dao này tao chặt,

Lấy đầu bêu cọc,

Mày hóa ma sầu

Mày thành quỷ khóc.

Bớ quân đạo tặc!

Tao chặt… Tao chặt… Tao chặt…

Úm phúc thủy!… Phúc thủy!… Phúc thủy!…”

Cứ thế đọc ba lần, chém ba nhát dao xuống trước ngõ, rồi giữa sân, sau mới vào cửa. Khoán như vậy sẽ gọi về uy lực của thần linh bảo vệ ngôi nhà làm kẻ trộm sẽ không dám bén mảng. Không biết niệm chú như vậy có tác dụng đến đâu, kẻ trộm cắp có dám bén mảng tới hay không thì khó ai mà biết được. Nhưng khi làm xong điều đó thì gia chủ cảm thấy yên lòng để ngon giấc. Tất cả những tinh hoa về nền văn hóa bình dân ấy đều được lưu giữ không biết từ bao giờ. Nét văn hóa truyền thống đặc sắc của Thủy Nguyên mà cha ông truyền lại vẫn trường tồn đến nay mà chúng ta vẫn giữ gìn và phát triển, đó là “Hội hát đúm”. Vâng! Nói đến Thủy Nguyên người ta biết ngay đây là vùng đất có phong cảnh hữu tình, đất đai phì nhiêu, mầu mỡ, đăc biệt lại có nhiều gái đẹp cùng với lễ “Hội hát đúm” rất hay. Không biết “Hội hát đúm” có từ bao giờ, nhưng các cụ kể thì có từ lâu lắm rồi, mà xuất phát từ vùng sông nước ven sông Bạch Đằng như ba xã Phả Lễ, Lập Lễ và Phục Lễ. Mấy xã này con trai thì làm nghề sông nước và công nhân mỏ đi biền biệt cả năm. Chỉ khi lễ tết mới về, nên mọi việc đồng áng, cày bừa, cấy hái đều do con gái đảm đương hết. 

Do cuộc sống vất vả, lam lũ, hàng ngày phải hai sương một nắng để bảo vệ nước da mịn màng, trắng đẹp, các cô gái vùng này luôn phải bịt khăn che mặt kín mít. Ngày thường gặp các cô gái chỉ thấy đôi cặp mắt chơm chớp không rõ mặt. Chỉ khi ngày lễ Tết trai gái mới gặp nhau trong hội làng. Nhưng rất tiếc người con gái lại bít khăn nên người con trai không thể biết mặt đẹp, xấu thế nào để tỏ tình. Xuất phát từ nhu cầu cần thiết đó của các chàng trai, cô gái người ta mới nghĩ ra sáng kiến là tập tục hát đúm. Khi đi Hội, người con trai nhìn thấy ưng cô gái nào đó thì có thể nắm tay mời hát, còn cô gái nếu nhận lời thì mới bỏ khăn ra cho bạn hát nhìn thấy dung nhan. Nên tập quán hát đúm hay hát ví ở Thủy Nguyên cũng là tục lệ “mở khăn” cho các chàng trai ngắm nhìn mặt cô gái trực tiếp rõ ràng hơn.

Vì lẽ đó mà đến tuổi dậy thì các chàng trai, cô gái ở vùng này đều phải thuộc dăm mười bài hát ví làm vốn, để khi đi Hội gặp các chàng trai mới có thể mời hát và cô gái nhận lời mới mở khăn đối đáp.

Xuất phát từ nhu cầu ấy mới có những bài hát ví truyền miệng từ đời này qua đời khác. Và các bài hát luôn được trau chuốt, rèn giũa qua năm tháng và trở thành tinh túy. Rồi cứ thế, những tinh hoa ấy được trải qua chiêm nghiệm xuyên suốt chiều dài lịch sử để ngày càng phát triển và trở thành một thứ văn hóa độc đáo truyền thống của Thủy Nguyên được lưu truyền và trường tồn mãi mãi. Hát đúm ở Thủy Nguyên rất đa dạng và phong phú. Nhưng có lẽ thú vị nhất, cũng là thông minh nhất vẫn là hát ví đối đáp nam nữ. Thường hát ví bao giờ cũng mở đầu và kết thúc câu:

Duyên kết bạn tình ơi!

Hát Đúm – Loại hình nghệ thuật truyền thống của người dân Thủy Nguyên cần được bảo tồn

Hát ví đối đáp nam nữ thì có nhiều vấn đề trong cuộc sống được nêu ra, như là Hoa*, Lá, Cá, Chim… rất đặc sắc vẫn tồn tại. Một khi người con trai mời người con gái họa bài Hoa thì người con gái phải họa lại bài Quả hoặc Lá. Một cuộc hát ví đối đáp nam nữ ở Hội hát đúm huyện Thủy Nguyên như sau:

Người nữ sau khi nhận lời mời của người con trai thì mở khăn ra hát:

Duyên kết bạn tình ơi!

Em là phận gái nữ nhi,

Vui cùng chúng bạn em đi hội này,

Gặp em, anh nắm cổ tay,

Bắt em hát họa để thay lời mừng.

Những là rày nhớ, mai mong

Hội Xuân nay mới thỏa lòng chúng ta.

Lời quê mộc mạc, nôm na,

Em xin hát họa bài Hoa1 anh tường

Muôn hoa đua sắc, khoe hương,

Để cho ong, bướm vấn vương đi tìm.

Lên đồi hoa mái, hoa sim,

Bước xuống dưới ruộng hoa bìm, hoa na,

Vào vườn hoa cải, hoa cà,

Hương thơm ngây ngất, nõn nà hoa cau.

Hoa bèo trôi giạt nơi đâu?

Trà thơm ai ướp hoa ngâu đợi chờ?

Đêm nằm tơ tưởng hoa mơ,

Phù dung e ấp, lẳng lơ hoa nhài.

Xa quê lại nhớ hoa khoai,

Để hoa xoan rụng nhuộm ai tím lòng.

Lập lòe hoa lựu đơm bông,

Thấy người say đắm hoa hồng mà thương.

Canh khuya sực nức dạ hương,

Trà mi đâu dễ ngăn đường bướm, ong.

Bạt ngàn hoa lúa trên đồng,

Cho mùa tươi tốt nặng bông thóc vàng.

Hè về hoa phượng chói chang,

Cho thu nhớ cúc, xuân sang nhớ đào.

Kìa trông hoa gạo trên cao,

Bồng bềnh hoa súng dưới ao cá đùa.

Hướng dương trước gió đung đưa,

Nào ai đi bán hoa mua giữa rừng.

Yểu điệu kìa hoa lộc vừng,

Hoa sen dưới nước đã từng soi gương.

Cánh mai lấp lánh giọt sương,

Phong lan đua sắc ngát hương bêm thềm.

Hoa quỳnh e lệ nở đêm.

Năm chầy ngóng đợi thủy tiên giao mùa.

Vì hoa bướm đón, ong đưa,

Vì tình đi sớm, về trưa đó mà.

Ngẩn ngơ, ngơ ngẩn vì hoa.

Gặp đây xin có bài ca tặng người.

Về Hoa em đã họa rồi.

Lá đâu chàng họa một bài mà nghe.

Duyên kết bạn tình ơi!

Chàng trai hát họa bài Lá như sau:

Duyên kết bạn tình ơi!

Quê nhà xanh mướt lá tre,

Khiến người xa xứ ngóng về đăm đăm.

Đắm đuối vì mắt lá răm,

Thương ai khuya sớm chăn tằm lá dâu.

Đêm nằm xào xạc lá cau,

Tưởng người xa vắng bấy lâu đã về.

Bâng khuâng nhớ những ngày hè,

Canh chua ai nấu lá me mát lòng.

Nõn nà lá quất, lá hồng,

Xanh rờn lá lúa trên đồng làng ta.

Tốt tươi lá mít, lá na,

Bên hồ lá liễu thướt tha buông mành.

Lá dong gói bánh chưng xanh,

Lá bàng gội nắng, dệt tranh trên đường.

Lá chuối đong gió, đãi sương,

Đã yêu cách trở mười phương vẫn tìm.

Chát lòng lá ổi, lá sim,

Lá bèo trôi giạt, nổi chìm lênh đênh.

Lá đa rụng khắp sân đình,

Cho người nhặt lá tỏ tình, lá ơi!

Canh cua đợi lá mồng tơi,

Tơ hồng là lá giúp người xe duyên.

Lá trầu cánh phượng ai têm,

Ăn vào môi thắm, tình thêm mặn nồng.

Tóc ai thơm gội lá bòng,

Để hương vương vấn trong lòng cho ai?

Nắng chiều nhuộm tím lá khoai,

Phất phơ lá trúc, lá mai đợi chờ.

Thoáng trông lá húng, lá mơ,

Đã làm cho chú cầy tơ giật mình.

Ngẩn ngơ lợn ngắm luống hành,

Con gà tao tác lá chanh mà sầu.

Trên giàn lá bí, lá bầu,

Kìa ai giã bạn bên cầu thở than.

Tránh xa lá ngón, lá han.

Mùa về gói cốm lá sen đậm đà.

Đất trời bát ngát, bao la,

Cho ta ngàn lá, ngàn hoa muôn màu.

Lá bùa có ở nơi đâu?

Mà làm mê mết lòng nhau, hỡi người!

Lá thì anh đã họa rồi,

Chim đâu em họa đôi lời xem sao?

Duyên kết bạn tình ơi!

Chàng trai sau khi hát xong bài họa Lá lại tiếp tục mời cô gái hát họa tiếp. Ngoài những bài họa Hoa, Lá, Quả, Cá, Chim… họ còn đố nhau họa về các điển tích hay các truyện như “Từ Thức lên tiên”, “Phan Trần”, “Phạm Tải – Ngọc Hoa”… Nhưng đặc biệt nhiều nhất là “Truyện Kiều”. Về Kiều họ tìm ra rất nhiều bài để đố khá hóc búa như câu:

Truyện Kiều có mấy đoạn hay,

Chàng mà giảng được cầm tay thì cầm…

Hát ví đối đáp quả không dễ chút nào. Vì thế trai gái đi Hội buộc phải học thuộc khá nhiều bài hát đã có sẵn truyền lại, hoặc tự mình sáng tác ra mà hát. Thường những đôi trai gái hát ví hợp nhau hay theo nhau suốt cả mùa Hội. 

Tuy nhiên, những ngày hát đối đáp ai thua đều phải tự nguyện trao kỷ vật cho người thắng. Và kỷ vật đó được giữ cho đến khi kết thúc Hội hát giã đám mới trao lại. Do có cái lệ ấy nên bất cứ chàng trai, cô gái nào cũng đều phải thuộc lòng những bài xin lại kỷ vật. Một trong những bài xin lại kỷ vật bằng khăn tay là:

Khăn tay em đưa cho chàng,

Nằm đêm tơ tưởng, mơ màng khăn tay.

Bây giờ em gặp chàng đây,

Thì chàng đưa chiếc khăn này em xin.

Thế là họ trao nhau kỷ vật để giã biệt và hẹn năm sau.

Hội hát đúm Thủy Nguyên sôi nổi và vui nhất thường là hôm hát giã đám. Hôm đó, hai bên ít hát đối đáp mà hát toàn những bài trữ tình, họ nấn ná bên nhau đến tận khuya và đưa ra toàn những bài hát hay nhất, mới nhất. Những yêu đương, thương nhớ, những hứa hẹn đợi chờ và hy vọng… Họ mong cho chóng tới mùa Hội tới để lại được gặp nhau. Rồi qua đó nhờ ông Tơ bà Nguyệt xe duyên mà kết nghĩa trăm năm..

Bởi lẽ đó mà hát đúm Thủy Nguyên đã làm cho các chàng trai cô gái của bao thế hệ phải yêu thích, đam mê tới mức đắm say. Và nghiễm nhiên trở thành tập quán tốt đẹp lâu đời làm cho tất cả những ai xa quê đều cảm thấy vấn vương, ngóng đợi. Đó cũng là một nét đẹp văn hóa truyền thống độc đáo của vùng đất Thủy Nguyên yêu quý của chúng ta.

Hội hát đúm trước đây còn có trò ví ống, nhưng nay không mấy ai dùng nữa. Muốn ví ống trước tiên phải làm ống. Ống thường làm bằng ống giang, ống nứa hoặc ống sữa bò để rỗng hai đầu. Một đầu lấy bong bóng lợn tươi vừa mổ kéo thật căng úp vào lấy dây buộc lại rồi đem phơi khô. Ống đánh bóng hoặc trang trí cho thật đẹp. Khi đi hát mang theo. Gặp đối tác muốn hát ống thì lấy kim chọc một lỗ vào giữa tâm bong bóng rồi xuyên sợi chỉ bằng tơ tằm qua và buộc vào que tăm giữ lại. Sau đó kéo sợi tơ tằm dài theo tùy ý của hai bên và nối với cái ống bên kia, tạo thành một đường dây truyền âm thanh giống như đường dây hữu tuyến của điện thoại.

Người ví ống phải hát vào ống, còn người nghe áp ống vào tai. Ví ống làm tiếng hát sang trọng, âm thanh du dương trầm bổng rất hay, do sự rung động của bong bóng và sợi tơ tạo ra âm hưởng rất lạ đối với người nghe.

Tuy thế, nhưng ngày nay ví ống không còn nữa, vì ví ống vừa lích kích, vừa mất công làm, mà nhất là trai gái lại không được gần nhau, nắm tay nhau để ngắm nhau khi hát. Và hiện tại người ta còn có ghế bàn để ngồi hát với nhau. 

Những nét đẹp văn hóa truyền thống xưa mà cha ông người dân Thủy Nguyên truyền lại vẫn luôn sáng giá được con cháu gìn giữ để mãi mãi trường tồn và phát triển.

Thư viện ảnh

Xem thêm

Thư viện Video

Xem thêm